Web Totals

Học từ Facebook #75: Popover tự lật theo phần tràn nhỏ nhất

ContextualLayerAutoFlip chọn phía cho popover: vừa thì lấy, không thì chọn phía tràn ít nhất mà không chui dưới thanh điều hướng; kèm cách đặt mũi tên.

hunghg255hunghg25523 min read
#facebook#popover#layout#ui#react
Học từ Facebook #75: Popover tự lật theo phần tràn nhỏ nhất

Một popover (menu, tooltip, hộp xác nhận) gắn vào một nút. Mặc định nó mở ở dưới, căn trái. Nút nằm sát đáy màn hình thì popover tràn xuống dưới, phải lật lên trên. Nút nằm sát mép phải thì phải căn phải. Đó là phần ai cũng làm.

Phần khó là khi không phía nào vừa: viewport thấp (điện thoại xoay ngang, cửa sổ nhỏ), popover cao. Lúc đó chọn gì? Và nếu lật lên trên làm popover chui xuống dưới thanh điều hướng cố định thì sao? Bài Popover và tooltip trước đó nói về cách Facebook mở/đóng và định vị popover; bài này đi vào đúng thuật toán chọn phía.

Tip

Tóm tắt

  • ContextualLayerAutoFlip thử lần lượt (căn lề × phía) theo thứ tự ưu tiên; tổ hợp đầu tiên nằm gọn trong viewport thắng.
  • Không tổ hợp nào vừa: chọn phía có tổng phần tràn (L1, cộng 4 cạnh) nhỏ nhất, nhưng chỉ xét vị trí còn nằm trong document và không lên trên vạch 43px của thanh điều hướng.
  • Căn lề cuối cùng chọn theo phần giao ngang lớn nhất với viewport.
  • Lỗi nhỏ trong bản gốc: phần tràn của bước 2 được đo với căn lề còn sót lại từ vòng lặp bước 1, không phải căn lề tốt nhất, nên có lúc loại nhầm phía tốt hơn.
  • AbstractContextualDialogArrowBehavior đặt mũi tên bằng (phần trăm + margin) và dịch cả layer khi nút quá hẹp.

#Facebook làm thế nào?

Facebook gom logic định vị lớp nổi trong ContextualLayer: một layer gắn với một "context" (phần tử neo), có position (above, below, left, right) và alignment (left, center, right). Các hành vi bổ sung được cắm vào dưới dạng behavior: tự lật, tự ẩn khi cuộn, mũi tên… ContextualLayerAutoFlip (bundle 91.js) là behavior tự lật.

#Bốn bước của _adjustOrientation

Mỗi lần layer cần định vị lại (mở, cuộn, đổi kích thước), behavior chạy:

  1. Danh sách ứng viên. Phía: [phía ưu tiên, phía đối diện]. Căn lề: [căn lề ưu tiên, hai căn lề còn lại]. Với mỗi căn lề, thử từng phía; tổ hợp đầu tiên mà hình chữ nhật của layer nằm gọn trong viewport thì dùng luôn.
  2. Tràn ít nhất. Nếu layer bật getPreferMoreContentShownRect, tính phần tràn của mỗi phía (tổng số pixel thò ra ở 4 cạnh), khởi đầu từ 99999. Chỉ xét những vị trí mà layer vẫn nằm trong document và cạnh trên không nhỏ hơn 43px (chiều cao thanh điều hướng xanh). Phía tràn ít nhất thắng.
  3. Mặc định. Không có phía nào hợp lệ thì về below nếu được.
  4. Căn lề. Với phía đã chọn, lấy căn lề có phần giao theo chiều ngang với viewport lớn nhất.

Khi layer nằm trong một vùng cuộn riêng (không phải window), danh sách phía còn được lọc theo việc phần tử neo có đang nhìn thấy trong vùng cuộn đó không.

#Lỗi "căn lề còn sót"

Bước 2 tính hình chữ nhật của layer cho mỗi phía, nhưng hình chữ nhật cần cả căn lề. Code dùng biến căn lề của vòng lặp bước 1, mà lúc này vòng lặp đã chạy hết, nên biến đang giữ căn lề cuối danh sách. Với ưu tiên left, đó là right.

Hậu quả: nút sát mép trái, ưu tiên căn trái. Căn phải đẩy layer ra ngoài mép trái của document (left < 0), nên cả hai phía đều bị loại ở bước 2, và bước 3 rơi về below, dù above + căn trái chỉ tràn 10px so với 24px. Nút "Không chỗ nào vừa" trong demo dựng đúng tình huống này; bảng dưới khung cho thấy kiểu Facebook chọn below/left (tràn 24px), bản viết lại chọn above/left (tràn 10px).

flowchart TD
  S["bắt đầu"] --> A["thử căn lề × phía theo ưu tiên"]
  A --> B{"có tổ hợp nằm gọn?"}
  B -- có --> Z["dùng tổ hợp đó"]
  B -- không --> C["mỗi phía: tính phần tràn"]
  C --> D{"trong document và dưới vạch 43px?"}
  D -- có --> E["chọn phía tràn ít nhất"]
  D -- "không phía nào" --> F["về below"]
  E --> G["chọn căn lề giao ngang nhiều nhất"]
  F --> G

#Mũi tên

AbstractContextualDialogArrowBehavior (bundle 25.js) đặt mũi tên của hộp thoại:

  • Với layer ở trên/dưới: mũi tên ở 0% (căn trái), 50% (giữa) hoặc 100% (căn phải) bề rộng layer.
  • Thêm một margin: (center ? 0 : offset) + length × percent / 100, đổi dấu nếu không phải căn trái. Căn phải: 100% − (offset + length), mũi tên cách góc phải đúng offset.
  • Nếu phần tử neo hẹp hơn length + 2 × offset, mũi tên ở góc sẽ chỉ ra ngoài phần tử neo. Behavior dịch cả layer đi length / 2 + offset − contextWidth / 2 (có tính RTL) để đỉnh mũi tên rơi đúng tâm.

Với layer ở trái/phải, phần trăm luôn là 0 bất kể căn lề, nên có lẽ mũi tên của layer right căn giữa vẫn nằm sát mép trên thay vì giữa. Code còn đọc kích thước mũi tên bằng parseInt(Style.get(...)), sẽ là NaN nếu style chưa có.

#Bên trong trình duyệt

Toạ độ cần cho thuật toán: hình chữ nhật của phần tử neo (getBoundingClientRect), kích thước layer (phải render layer một lần, ẩn, rồi đo), viewport (innerWidth/innerHeight hoặc vùng cuộn) và kích thước document. Tất cả là phép đọc layout; gộp chúng trước mọi phép ghi để không gây layout thrashing.

Trên điện thoại, innerHeight đổi khi thanh địa chỉ co/giãn và khi bàn phím ảo mở. visualViewport cho kích thước vùng thực sự nhìn thấy; nếu popover nằm cạnh ô nhập liệu, dùng visualViewport.height thay vì innerHeight.

#Viết lại

Phần thuật toán là hàm thuần: nhận các hình chữ nhật, trả vị trí. Không đụng DOM nên test dễ và dùng được với bất kỳ framework nào.

src/lib/autoFlip.ts
export function choosePlacement(input: PlacementInput): Placement {
  const { preferred, topInset = 43 } = input;
  const positions: Position[] = [preferred.position, opposite(preferred.position)];
  const alignments = alignmentOrder(preferred.alignment);

  for (const a of alignments) {
    for (const p of positions) {
      if (contains(input.viewport, layerRect(input, p, a))) return finish(input, p, a, 'fits');
    }
  }

  let best: { p: Position; score: number } | null = null;
  for (const p of positions) {
    const a = bestAlignment(input, p, alignments);
    const r = layerRect(input, p, a);
    const insideDocument = r.left >= 0 && right(r) <= input.document.width && r.top >= topInset && bottom(r) <= input.document.height;
    if (!insideDocument) continue;
    const score = overflow(input.viewport, r);
    if (!best || score < best.score) best = { p, score };
  }
  if (best) return finish(input, best.p, bestAlignment(input, best.p, alignments), 'least-overflow');

  const fallback = positions.includes('below') ? 'below' : positions[0];
  return finish(input, fallback, bestAlignment(input, fallback, alignments), 'fallback');
}
ts

Mũi tên:

src/lib/autoFlip.ts
export function arrowPlacement({ alignment, anchorWidth, arrow, rtl = false }: ArrowInput): ArrowPlacement {
  const percent = alignment === 'center' ? 50 : alignment === 'right' ? 100 : 0;
  let margin = (alignment === 'center' ? 0 : arrow.offset) + (arrow.length * percent) / 100;
  if (alignment !== 'left') margin = -margin;

  let layerShift = 0;
  if (alignment !== 'center' && anchorWidth < arrow.length + arrow.offset * 2) {
    const shift = arrow.length / 2 + arrow.offset - anchorWidth / 2;
    // căn trái: kéo layer sang trái; căn phải: đẩy sang phải
    layerShift = alignment === 'left' ? -shift : shift;
  }
  return { side: rtl ? 'right' : 'left', percent, margin, layerShift };
}
ts
Xem toàn bộ src/lib/autoFlip.ts
src/lib/autoFlip.ts
/**
 * Chọn vị trí cho popover/tooltip quanh một "anchor" (ý tưởng từ ContextualLayerAutoFlip
 * và AbstractContextualDialogArrowBehavior của Facebook):
 *  1. Thử (căn lề × phía) theo thứ tự ưu tiên; cái nào nằm gọn trong viewport thì lấy.
 *  2. Không cái nào vừa: chọn phía có tổng phần tràn ra ngoài viewport nhỏ nhất,
 *     nhưng chỉ xét các vị trí vẫn nằm trong document và không chui dưới thanh điều hướng.
 *  3. Cuối cùng chọn căn lề có phần giao theo chiều ngang với viewport lớn nhất.
 * Mũi tên được đặt bằng (phần trăm + margin), và nếu anchor nhỏ hơn mũi tên thì
 * dịch cả layer để mũi tên chỉ đúng tâm anchor.
 */

export type Position = 'above' | 'below';
export type Alignment = 'left' | 'center' | 'right';

export interface Rect {
  left: number;
  top: number;
  width: number;
  height: number;
}

const right = (r: Rect) => r.left + r.width;
const bottom = (r: Rect) => r.top + r.height;

export function contains(outer: Rect, inner: Rect): boolean {
  return (
    inner.left >= outer.left && inner.top >= outer.top && right(inner) <= right(outer) && bottom(inner) <= bottom(outer)
  );
}

/** Tổng phần tràn (theo pixel) ở 4 cạnh; 0 nghĩa là nằm gọn. */
export function overflow(viewport: Rect, r: Rect): number {
  return (
    Math.max(0, viewport.left - r.left) +
    Math.max(0, right(r) - right(viewport)) +
    Math.max(0, viewport.top - r.top) +
    Math.max(0, bottom(r) - bottom(viewport))
  );
}

/** Độ dài phần giao theo chiều ngang. */
export function horizontalOverlap(viewport: Rect, r: Rect): number {
  return Math.max(0, Math.min(right(viewport), right(r)) - Math.max(viewport.left, r.left));
}

export interface LayerGeometry {
  anchor: Rect;
  size: { width: number; height: number };
  /** khoảng cách giữa anchor và layer (chỗ cho mũi tên) */
  gap: number;
}

export function layerRect({ anchor, size, gap }: LayerGeometry, position: Position, alignment: Alignment): Rect {
  const left =
    alignment === 'left'
      ? anchor.left
      : alignment === 'right'
        ? right(anchor) - size.width
        : anchor.left + anchor.width / 2 - size.width / 2;
  const top = position === 'above' ? anchor.top - gap - size.height : bottom(anchor) + gap;
  return { left, top, width: size.width, height: size.height };
}

export interface PlacementInput extends LayerGeometry {
  /** viewport tính theo toạ độ document */
  viewport: Rect;
  /** kích thước toàn document */
  document: { width: number; height: number };
  preferred: { position: Position; alignment: Alignment };
  /** vùng trên cùng bị thanh điều hướng che (Facebook: 43px) */
  topInset?: number;
}

export interface Placement {
  position: Position;
  alignment: Alignment;
  rect: Rect;
  overflow: number;
  reason: 'fits' | 'least-overflow' | 'fallback';
}

const opposite = (p: Position): Position => (p === 'above' ? 'below' : 'above');
const ALIGNMENTS: Alignment[] = ['left', 'center', 'right'];

function alignmentOrder(preferred: Alignment): Alignment[] {
  return [preferred, ...ALIGNMENTS.filter((a) => a !== preferred)];
}

function bestAlignment(input: PlacementInput, position: Position, order: Alignment[]): Alignment {
  let best = order[0];
  let bestOverlap = 0;
  for (const a of order) {
    const overlap = horizontalOverlap(input.viewport, layerRect(input, position, a));
    if (overlap > bestOverlap) {
      bestOverlap = overlap;
      best = a;
    }
  }
  return best;
}

function finish(input: PlacementInput, position: Position, alignment: Alignment, reason: Placement['reason']): Placement {
  const rect = layerRect(input, position, alignment);
  return { position, alignment, rect, overflow: overflow(input.viewport, rect), reason };
}

/**
 * Bản viết lại. Khác bản gốc ở bước 2: phần tràn của mỗi phía được tính với căn lề
 * tốt nhất của chính phía đó, không phải với căn lề còn sót lại từ vòng lặp bước 1.
 */
export function choosePlacement(input: PlacementInput): Placement {
  const { preferred, topInset = 43 } = input;
  const positions: Position[] = [preferred.position, opposite(preferred.position)];
  const alignments = alignmentOrder(preferred.alignment);

  for (const a of alignments) {
    for (const p of positions) {
      if (contains(input.viewport, layerRect(input, p, a))) return finish(input, p, a, 'fits');
    }
  }

  let best: { p: Position; score: number } | null = null;
  for (const p of positions) {
    const a = bestAlignment(input, p, alignments);
    const r = layerRect(input, p, a);
    const insideDocument = r.left >= 0 && right(r) <= input.document.width && r.top >= topInset && bottom(r) <= input.document.height;
    if (!insideDocument) continue;
    const score = overflow(input.viewport, r);
    if (!best || score < best.score) best = { p, score };
  }
  if (best) return finish(input, best.p, bestAlignment(input, best.p, alignments), 'least-overflow');

  const fallback = positions.includes('below') ? 'below' : positions[0];
  return finish(input, fallback, bestAlignment(input, fallback, alignments), 'fallback');
}

// ---- Mũi tên ----

export interface ArrowInput {
  position: Position;
  alignment: Alignment;
  /** bề rộng anchor */
  anchorWidth: number;
  /** chiều dài cạnh mũi tên và khoảng cách tối thiểu tới góc layer */
  arrow: { length: number; offset: number };
  rtl?: boolean;
}

export interface ArrowPlacement {
  /** cạnh dùng để định vị mũi tên trong layer */
  side: 'left' | 'right';
  /** vị trí theo phần trăm bề rộng layer */
  percent: number;
  /** margin cộng thêm (px), có thể âm */
  margin: number;
  /**
   * Dịch layer theo chiều ngang (px). Anchor hẹp hơn mũi tên + 2×offset thì mũi tên ở góc
   * sẽ lệch khỏi anchor; dịch layer để đỉnh mũi tên rơi đúng tâm anchor.
   */
  layerShift: number;
}

export function arrowPlacement({ alignment, anchorWidth, arrow, rtl = false }: ArrowInput): ArrowPlacement {
  const percent = alignment === 'center' ? 50 : alignment === 'right' ? 100 : 0;
  let margin = (alignment === 'center' ? 0 : arrow.offset) + (arrow.length * percent) / 100;
  if (alignment !== 'left') margin = -margin;

  let layerShift = 0;
  if (alignment !== 'center' && anchorWidth < arrow.length + arrow.offset * 2) {
    const shift = arrow.length / 2 + arrow.offset - anchorWidth / 2;
    // căn trái: kéo layer sang trái; căn phải: đẩy sang phải
    layerShift = alignment === 'left' ? -shift : shift;
  }
  return { side: rtl ? 'right' : 'left', percent, margin, layerShift };
}
ts

#Đi qua code

  • layerRect tính hình chữ nhật của layer cho một (phía, căn lề): căn trái thì mép trái trùng phần tử neo, căn phải thì mép phải trùng, căn giữa thì tâm trùng. gap là chỗ cho mũi tên.
  • contains và overflow: nằm gọn hay không, và tràn bao nhiêu pixel ở 4 cạnh. Dùng tổng (L1) giống bản gốc: tràn 10px trên + 10px phải bằng tràn 20px một cạnh.
  • choosePlacement bước 1 giữ đúng thứ tự thử của bản gốc. Bước 2 gọi bestAlignment cho từng phía trước khi đo phần tràn, nên không còn phụ thuộc vào biến còn sót.
  • topInset là vạch thanh điều hướng (mặc định 43 như Facebook); đặt 0 nếu trang không có thanh cố định.
  • arrowPlacement trả percent, margin và layerShift. CSS chỉ cần left: calc(<percent>% + <margin>px) cho mũi tên và cộng layerShift vào left của layer.

Khác bản gốc:

  • Phần tràn của mỗi phía đo với căn lề tốt nhất của chính phía đó.
  • Chỉ có above/below, không có left/right.
  • Không có bộ lọc theo vùng cuộn riêng.
  • Bước 2 luôn chạy (không cần cờ getPreferMoreContentShownRect).

#Tại sao không làm cách khác?

  • Chỉ lật khi tràn, không so phần tràn: dễ, nhưng khi cả hai phía cùng tràn, popover có thể bị lật sang phía tràn nhiều hơn. So bằng số pixel là cách rẻ nhất để chọn đúng.
  • Chọn phía có nhiều chỗ trống hơn (so khoảng trống trên và dưới phần tử neo): gần giống, nhưng không tính tới căn lề ngang và vạch thanh điều hướng.
  • Thu nhỏ popover cho vừa (max-height + cuộn bên trong): thường là cách đúng cho menu dài. Có thể kết hợp: chọn phía bằng thuật toán này, rồi đặt max-height bằng chỗ trống thật của phía đó.
  • CSS anchor positioning với position-try-fallbacks: trình duyệt tự thử các vị trí dự phòng. Nhưng nó chọn vị trí dự phòng đầu tiên vừa, không chọn "tràn ít nhất" khi không có vị trí nào vừa (tính tới 10/2026).

#Edge case và cạm bẫy

  • Đo kích thước layer trước khi hiện: render với visibility: hidden (vẫn chiếm layout) chứ không display: none (kích thước 0).
  • Layer đổi kích thước sau khi mở (ảnh tải xong, nội dung bất đồng bộ): chạy lại thuật toán bằng ResizeObserver trên layer.
  • Lật liên tục khi cuộn: nút ở đúng ranh giới, mỗi pixel cuộn lại lật một lần. Có thể thêm độ trễ (hysteresis): chỉ đổi phía khi phía mới tốt hơn phía hiện tại một khoảng.
  • Vạch 43px là của Facebook: thanh điều hướng của bạn cao bao nhiêu thì đặt topInset bấy nhiêu, và nhớ cả env(safe-area-inset-top) trên iPhone.
  • RTL: căn "trái" trong tiếng Ả Rập là căn về phía bắt đầu dòng. arrowPlacement trả side để CSS dùng right thay cho left.

#Dùng trong dự án

function place(anchorEl: HTMLElement, layerEl: HTMLElement) {
  const a = anchorEl.getBoundingClientRect();
  const size = { width: layerEl.offsetWidth, height: layerEl.offsetHeight };
  const p = choosePlacement({
    anchor: { left: a.left + scrollX, top: a.top + scrollY, width: a.width, height: a.height },
    size,
    gap: 10,
    viewport: { left: scrollX, top: scrollY, width: innerWidth, height: innerHeight },
    document: { width: document.documentElement.scrollWidth, height: document.documentElement.scrollHeight },
    preferred: { position: 'below', alignment: 'left' },
    topInset: 56,
  });
  const arrow = arrowPlacement({ ...p, anchorWidth: a.width, arrow: { length: 16, offset: 12 } });
  layerEl.style.transform = `translate(${p.rect.left + arrow.layerShift}px, ${p.rect.top}px)`;
  layerEl.dataset.position = p.position;
}
ts

#Kiểm thử

Ví dụ test (bản phác, không có trong repo)
import { expect, it } from 'vitest';
import { arrowPlacement, choosePlacement } from './autoFlip';
import { choosePlacementFbStyle } from '../demos/autoFlipFbStyle';

const base = {
  size: { width: 220, height: 140 },
  gap: 8,
  viewport: { left: 0, top: 200, width: 360, height: 300 },
  document: { width: 1200, height: 2000 },
  preferred: { position: 'below' as const, alignment: 'left' as const },
};

it('vừa thì giữ ưu tiên', () => {
  const p = choosePlacement({ ...base, anchor: { left: 40, top: 220, width: 60, height: 30 } });
  expect([p.position, p.alignment, p.reason]).toEqual(['below', 'left', 'fits']);
});

it('sát mép trái, không phía nào vừa: bản viết lại chọn phía tràn ít, bản kiểu FB rơi về below', () => {
  const input = { ...base, anchor: { left: 20, top: 340, width: 60, height: 30 } };
  const fixed = choosePlacement(input);
  const fb = choosePlacementFbStyle(input);
  expect(fixed.position).toBe('above');
  expect(fixed.overflow).toBeLessThan(fb.overflow);
  expect(fb.position).toBe('below');
});

it('mũi tên: căn phải ở 100% trừ offset + length; anchor hẹp thì dịch layer', () => {
  expect(
    arrowPlacement({ position: 'below', alignment: 'right', anchorWidth: 200, arrow: { length: 16, offset: 12 } }),
  ).toMatchObject({ percent: 100, margin: -28, layerShift: 0 });
  expect(
    arrowPlacement({ position: 'below', alignment: 'left', anchorWidth: 20, arrow: { length: 16, offset: 12 } }).layerShift,
  ).toBe(-10);
});
ts

#So với thư viện và chuẩn web

  • Floating UI (trước là Popper): middleware flip thử các vị trí dự phòng, và có option fallbackStrategy: 'bestFit' chọn vị trí tràn ít nhất khi không có vị trí nào vừa, đúng ý tưởng bước 2. Middleware shift đẩy layer vào trong viewport, arrow tính vị trí mũi tên, size đặt max-height. Với dự án mới, dùng Floating UI thay vì tự viết.
  • CSS Anchor Positioning (anchor(), position-area, position-try-fallbacks: flip-block): có trong Chrome, Edge, Safari 26 và Firefox (đang triển khai) tính tới 10/2026. Không cần JavaScript để lật, nhưng logic "tràn ít nhất" và vạch thanh điều hướng vẫn phải tự lo (có thể bằng position-try-order: most-height).
  • Popover API (popover, showPopover()) lo phần top layer, đóng khi bấm ra ngoài, phím Esc. Nó không định vị; kết hợp với anchor positioning hoặc thuật toán ở trên.

Bài này thuộc series Học từ mã nguồn Facebook (106 bài, đọc theo thứ tự).

Xem nhanh danh sách bài trong series

Phần 1

Phần 2

Phần 3

Phần 4–6

Phần 7–10

Phần 11–15

Code + demo: examples/facebook-patterns · Mở trên StackBlitz